Tầm quan trọng của nhiễm sắc thể dị bội

Thụ tinh ống nghiệm (IVF) là một trong những phương pháp tiên tiến chữa trị vô sinh, tuy nhiên nhiễm sắc thể (NST) dị bội là nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ thành công thấp trong IVF và sảy thai trong ba tháng đầu mang thai.

Giá trị của PGS

PGS có vai trò chọn lọc các phôi không mang bất thường ở mức độ nhiễm sắc thể trước khi cấy chuyển vào tử cung người phụ nữ. Điều này làm tăng khả năng thành công trong thụ tinh ống nghiệm cho phụ nữ ở mọi lứa tuổi, giảm tỷ lệ bỏ thai do những dị tật bất thường nhiễm sắc thể, cũng như mang lại hy vọng cho những gia đình có tiền sử sinh con bất thường, sảy thai nhiều lần hoặc thai lưu không rõ nguyên nhân. Ngoài ra PGS cũng đảm bảo cấy phôi đơn, tránh những rủi ro đa thai, đảm bảo sức khỏe sinh sản người mẹ.

Thụ tinh ống nghiệm kết hợp với xét nghiệm PGS được xem là biện pháp dự phòng các rối loạn di truyền sớm ở mức độ NST, biện pháp chủ động để người mẹ sinh ra những đứa con khỏe mạnh.

2 3

Những trường hợp cần sử dụng PGS

  • Những cặp vợ chồng mắc các rối loạn di truyền ở mức độ nhiễm sắc thể (chuyển đoạn cân bằng,…).
  • Những cặp vợ chồng lớn tuổi có nguy cơ cao bị thai dị tật
  • Phụ nữ bị sảy thai lặp lại nhiều lần
  • Phụ nữ đã làm thụ tinh ống nghiệm trước đó nhưng thất bại

Quy trình thực hiện xét nghiệm PGS

Sinh thiết phôi bào

Sinh thiết tế bào được thực hiện ở phôi giai đoạn ngày 3 (sinh thiết 1 tế bào) và phôi giai đoạn ngày 5 (sinh thiết nhiều tế bào). Tế bào sau sinh thiết sẽ được rửa sau đó chuyển vào ống PCR làm xét nghiệm hoặc được cố định trên lam (đối với kỹ thuật FISH).

1

Các kỹ thuật dùng để xét nghiệm PGS

  1. Lai huỳnh quang tại chỗ (FISH)

FISH (Fluorescent insitu hybridization) là kỹ thuật trung gian giữa di truyền tế bào và di truyền phân tử, sử dụng một đoạn mồi đặc hiệu (probe) gắn tín hiệu huỳnh quang, để phát hiện sự có mặt hoặc vắng mặt của một đoạn gen nào đó trên nhiễm sắc thể, ngoài ra interphase FISH (FISH nhanh) còn được sử dụng trong Sàng lọc di truyền tiền làm tổ (PGS) từ năm 1992, để sàng lọc một số hội chứng di truyền thường gặp: hội chứng Down (trisomy 21), hội chứng Patau (trisomy 13), hội chứng Edward (trisomy 18), hội chứng Turner (monosomy X), hội chứng Kleinerfelter (XXY)…

Hiện nay kỹ thuật FISH rất ít được sử dụng trong xét nghiệm PGS bởi nhiều những hạn chế như:

  • Hạn chế về số lượng nhiễm sắc thể có thể sàng lọc (thường chỉ sàng lọc được 5 NST/ 24 NST)
  • Khó khăn về kỹ thuật trong việc cố định tế bào
  1. Lai gen so sánh (Array CGH)
    Array CGH đã được áp dụng thành công trong sàng lọc di truyền tiền làm tổ từ năm 2006. Cơ sở của kỹ thuật thực hiện việc so sánh mẫu ADN cần phân tích với mẫu ADN chứng, thông qua sự khác biệt giữa 2 ADN này để phát hiện các trường hợp mất đoạn hoặc nhân đoạn nếu có trên AND.

Kỹ thuật có ưu điểm là sàng lọc được dị bội 24 NST; phát hiện được một số chuyển đoạn và mất đoạn nhỏ, thời gian trả kết quả ngắn khoảng 12 giờ từ khi nhận mẫu. Array CGH có thể phát hiện được các bất thường khoảng từ 5 – 10 Mb.

  1. BCAs-on-Beads (BoBs)

BoBs là một công nghệ tiên tiến và ngày càng được phổ biến đối với xét nghiệm PGS. Kỹ thuật dựa trên nguyên lý lai ADN để phát hiện các bất thường trên toàn bộ 24 nhiễm sắc thể được ứng dụng từ năm 2012.

Kỹ thuật có ưu điểm là sàng lọc được dị bội 24 NST, phát hiện được một số mất đoạn nhỏ, không giới hạn lượng mẫu đầu vào. Kỹ thuật cũng có một số nhược điểm so với kỹ thuật Array CHG là khả năng phát hiện bất thường thấp hơn, khoảng từ 10 – 15 Mb (không phát hiện được các bệnh lý liên quan đến vi mất đoạn) và thời gian trả kết quả là 26 giờ từ khi nhận mẫu.

  1. Giải trình tự thế hệ mới (Next Generation Sequencing – NGS)

NGS bắt đầu được áp dụng rộng  rãi  ở  một  số nước  châu  Âu và  Mỹ  từ năm 2014 để phân tích nhiễm sắc thể của phôi nang.

Kỹ thuật có nhiều ưu điểm so với các kỹ thuật trước đó như BoBs hay Array CHG. Kỹ thuật có thể sàng lọc được dị bội 24 NST; phát hiện được hầu hết các bệnh lý liên quan đến chuyển đoạn và mất đoạn nhỏ; kỹ thuật có thể phát hiện được các bất thường từ 1,8 Mb trở lên, có độ phân giải cao hơn hẳn các kỹ thuật trước đó. Thời gian giải thực hiện kỹ thuật khoảng 12 giờ từ khi nhận mẫu.

ThS. Dương Văn Thanh

Lê Thị Thanh Hương

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here