1. Giới thiệu chung

Chẩn đoán trước sinh các bệnh di truyền ngày càng trở nên phổ biến nhờ những tiến bộ trong chuyên ngành Y sinh học di truyền tại Việt nam. Nhờ các xét nghiệm chẩn đoán bệnh di truyền bằng các kỹ thuật di truyền tế bào và di truyền phân tử, tiến hành chẩn đoán trước sinh các bệnh lý di truyền cho các gia đình có nguy cơ sinh con mắc bệnh nhằm không sinh ra những em bé mắc bệnh di truyền nặng nề, không có khả năng điều trị được làm giảm gánh nặng cho các gia đình bệnh nhân và toàn xã hội.

Mẫu bệnh phẩm trong chẩn đoán trước sinh: dịch ối hoặc gai rau. Các thủ thuật lấy mẫu bệnh phẩm là chọc hút dịch ối và sinh thiết gai rau là những thủ thuật xâm lấn, dưới sự hướng dẫn của siêu âm, sử dụng các dụng cụ chọc hút chuyên dụng và được thực hiện bởi các bác sỹ sản khoa nhiều kinh nghiệm. Độ an toàn của các thủ thuật này cao, tỷ lệ biến chứng thấp, đối với thủ thuật chọc ối tỷ lệ biến chứng 0.5-1%, thủ thuật sinh thiết gai rau: 1-3%

 (a) Thủ thuật chọc ối (b) Thủ thuật sinh thiết gai rau
(a) Thủ thuật chọc ối                             (b) Thủ thuật sinh thiết gai rau

Thời gian lấy mẫu bệnh phẩm: sinh thiết gai rau từ tuần thai thứ 10-13, chọc hút dịch ối từ tuần thai thứ 16-18. Hiện nay tại Hà nội các cơ sở sản khoa đều lựa chọn phương pháp chọc hút dịch ối để lấy mẫu bệnh phẩm dùng cho chẩn đoán trước sinh. Yêu cầu chọc hút 10-12ml dịch ối, mẫu bệnh phẩm đạt tiêu chuẩn là dịch ối trong, màu vàng nhạt, không lẫn máu. Dịch ối sau khi chọc hút ra được giữ vô trùng, chuyển về các phòng xét nghiệm di truyền càng sớm càng tốt, tối đa trong vòng 24 giờ. Tại các phòng xét nghiệm di truyền, mẫu dịch ối được sử dụng trực tiếp để làm các xét nghiệm chẩn đoán hay sẽ được nuôi cấy để thu được lượng tế bào cần thiết, tách chiết DNA tùy theo nhu cầu của từng xét nghiệm.

2. Chẩn đoán trước sinh các bệnh lý di truyền phổ biến

  • Các bệnh di truyền phân tử

Chỉ định: những cặp vợ chồng có tiền sử sinh con hoặc trong gia đình có những thành viên mắc các bệnh di truyền phân tử đã được xác định kiểu gen, có nguy cơ sinh con mắc bệnh trong các lần sinh.

Các bệnh lý đang được triển khai chẩn đoán trước sinh phổ biến tại Việt nam:

  1. Bệnh lý huyết sắc tố: alpha thalassemia, beta thalassemia
  2. Bệnh teo cơ tủy (Spinal Muscular Atrophy-SMA)
  3. Bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne (Duchenne Muscular Dystrophy-DMD)
  4. Bệnh tăng sản thượng thận bẩm sinh (Congenital Adrenal Hyperplasia-CAH)
  5. Bệnh thiếu hụt Citrin (Citrin Deficency)
  6. Bệnh rối loạn chuyển hóa Wilson
  7. Yếu tố biệt hóa tinh hoàn (Testis Determining Factor-TDF)

Các kỹ thuật xét nghiệm di truyền: PCR, MLPA, giải tình tự gen….

  • Các bệnh di truyền tế bào

Mục đích: phát hiện các bệnh lý của nhiễm sắc thể bao gồm những bất thường về số lượng và cấu trúc nhiễm sắc thể, phổ biến như hội chứng Down, hội chứng Patau, hội chứng Edwards, hội chứng Prader-Willi, hội chứng Di George, các bất thường về nhiễm sắc thể giới….

Chỉ định:

  1. Tuổi mẹ: khuyến cáo những sản phụ trên 35 nên làm các xét nghiệm chẩn đoán trước sinh
  2. Chỉ số sàng lọc huyết thanh máu mẹ tại 3 tháng đầu hoặc 3 tháng giữa có nguy cơ cao với các bệnh lý di truyền
  3. Tiền sử sảy thai, lưu thai nhiều lần hoặc tiền sử sinh con mang các bất thường về nhiễm sắc thể: về nguyên tắc các cặp bố mẹ này không có nguy cơ tăng tỷ lệ tái mắc ở những lần sinh sau, chẩn đoán trước sinh được khuyến cáo nên làm vì có những trường hợp bố mẹ có mang các bất thường nhiễm sắc thể ở trạng thái khảm, khảm tế bào sinh dục mà tỷ lệ tế bào bất thường ít không phát hiện được bằng phân tích nhiễm sắc thể từ tế bào máu ngoại vi thông thường.
  4. Các cặp bố mẹ có mang các bất thường cấu trúc nhiễm sắc thể dạng cân bằng: những người bố hoặc mẹ này hoàn toàn bình thường về kiểu hình do những bất thường dạng này không làm thay đổi vật chất di truyền nhưng khi truyền cho thế hệ sau các bất thường này không còn ở dạng cân bằng nữa và sẽ có biểu hiện kiểu hình bất thường, thông thường đứa trẻ sẽ có chậm phát triển trí tuệ và các dị tật khác kèm theo.
  5. Hình ảnh siêu âm thai bất thường: ví dụ có hình ảnh tăng khoảng sáng sau gáy, chiều dài xương sống mũi thấp, giãn não thất….
  6. Điều trị tia xạ: nam giới điều trị tia xạ có nguy cơ phát sinh những bất thường về cấu trúc và số lượng nhiễm sắc thể của tế bào tinh trùng, không những tại thời điểm thụ tinh mà còn nhiều năm sau đó.
  7. Hỗ trợ sinh sản: những cặp bố mẹ mang thai nhờ các biện pháp hỗ trợ sinh sản cũng được khuyến cáo làm xét nghiệm chẩn đoán trước sinh

Các kỹ thuật xét nghiệm di truyền: phân tích nhiễm sắc thể, kỹ thuật lai huỳnh quang tại chỗ FISH (Fluorescence In Situ Hybridization), kỹ thuật QF-PCR….

  • Chẩn đoán di truyền trước chuyển phôi (Preimplantation Genetic Diagnosis- PGD)

Chẩn đoán di truyền trước chuyển phôi (PGD) là một kỹ thuật tiên tiến, bước đầu được áp dụng tại một số trung tâm xét nghiệm di truyền tại Việt nam. PGD là một phần của quy trình thụ tinh trong ống nghiệm, những cặp vợ chồng này phải làm thụ tinh trong ống nghiệm để tạo phôi, sinh thiết phôi là kỹ thuật thao tác vi thể để lấy ra từ 1 đến 2 tế bào phôi vào ngày thứ 3 của kỳ phôi hoặc lấy ra vài tế bào vào giai đoạn phôi đã hình thành túi mà không ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi. Sau đó sẽ phân tích các bất thường về gen và nhiễm sắc thể trên các tế bào phôi này, nếu kết quả bình thường các phôi sẽ được chuyển vào tử cung mẹ với mong muốn sinh ra những em bé hoàn toàn khỏe mạnh.

2

  • Các kỹ thuật xét nghiệm di truyền

Phân tích SNP (phân tích gen đa dạng bằng hợp chất đơn – Single nucleotide polymorphism- SNPs): nguyên lý là phân tích SNP sự khác nhau về cường độ và tỷ lệ gen tương ứng với các tế bào phôi. Phân tích SNP phát hiện được các lệch bội NST, bất thường cấu trúc NST và các bệnh di truyền đơn gen.

BACs- on- Beads 24 nhiễm sắc thể: phát hiện các lệch bội lẻ tất cả các NST trong bộ NST người.

Kỹ thuật lai huỳnh quang tại chỗ FISH: phát hiện các lệch bội lẻ các NST 13, 18, 21, X, Y.

BS. An Thùy Lan

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here