Giới thiệu

Thông khí nhân tạo bằng máy thở là biện pháp điều trị hỗ trợ hô hấp không thể thiếu trong hồi sức cấp cứu, giúp cho cơ thể tiếp nhận oxy và đào thải CO2. Có nhiều loại máy thở khác nhau đã được sử dụng, có thể chia thành 2 loại chính: máy thở thông thường và máy thở cao tần. Máy thở thông thường (tần số thở khoảng 10-60 lần/phút) được sử dụng từ những năm 1950 và liên tục được cải tiến để tăng cường hiệu quả hỗ trợ hô hấp. Tuy nhiên nhiều trường hợp tổn thương phổi nặng không đáp ứng với thông khí nhân tạo bằng máy thở thông thường hoặc xuất hiện các biến chứng do thở máy áp lực cao: tràn khí màng phổi, tổn thương phổi, các đường thở nhỏ… Thông khí nhân tạo bằng máy thở cao tần là một phương pháp thở máy đặc biệt với tần số thở rất cao (khoảng 150-900 lần/phút) được sử dụng thay thế máy thở thông thường trong các trường hợp tổn thương phổi nặng và giúp hạn chế các biến chứng do thở máy với áp lực cao. Máy thở cao tần được mô tả đầu tiên vào năm 1969, được đưa vào sử dụng thành công ở trẻ em và trẻ sơ sinh từ năm 1983 và trong hơn 30 năm qua đã giúp cứu sống rất nhiều trẻ em bị các bệnh lý hô hấp nặng

2

Nguyên lý hoạt động:

Thở máy cao tần có 3 đặc điểm đặc trưng khác với thở máy thông thường: 1) Tần số thở cao, thường trong khoảng 150 – 900 nhịp thở/phút; 2) Cả thì thở vào và thở ra đều là chủ động (trong thở máy thông thường thì thở ra là thụ động, khí được đẩy ra ngoài do sự đàn hồi của phổi và lồng ngực); 3) Thể tích khí lưu thông trong mỗi chu kỳ thở rất nhỏ so với thở máy thông thường.

Nhiều nguyên lý kỹ thuật khác nhau được sử dụng để tạo ra tần số cao trong máy thở cao tần. Hai kỹ thuật phổ biến là sử dụng màng rung giống như màng loa hoặc sử dụng piston để đẩy khí vào và hút khí ra. Hoạt động của màng rung hoặc piston này làm cho áp lực đường thở dao động với một biên độ nhỏ xung quanh giá trị áp lực trung bình – được tạo ra bởi một dòng khí liên tục (bias gas) cung cấp bởi máy thở. Như vậy thông khí nhân tạo bằng máy thở cao tần tạo ra một áp lực dương liên tục, ổn định trong phổi đồng thời tránh được tình trạng đóng mở liên tục của các phế nang, làm giảm tổn thương phổi do thở máy. Máy thở có hệ thống điều khiển cho phép thay đổi áp lực trung bình đường thở, nồng độ oxy khí thở vào, tần số và biên độ dao động của piston hoặc màng rung để đảm bảo cung cấp oxy và đào thải khí CO2

1

Hiệu quả

Thông khí nhân tạo bằng máy thở cao tần giúp hạn chế xẹp phổi và làm mở các phế nang bị xẹp do duy trì liên tục một áp lực dương trong đường thở bằng hoặc lớn hơn áp lực đường thở trung bình trong thở máy thông thường

Do thể tích khí bơm vào trong mỗi lần thở là rất nhỏ so với máy thở thông thường nên thở máy cao tần giúp hạn chế tổn thương phổi do áp lực hoặc thể tích quá cao. Tuy thể tích khí lưu thông trong mỗi chu kỳ thở rất nhỏ nhưng do tần số thở rất cao và thì thở ra là chủ động nên máy thở cao tần giúp đào thải khí CO2 trong cơ thể tốt hơn so với máy thở thông thường. Mặt khác, nguyên lý hoạt động của máy thở cao tần khác với máy thở thông thường nên chuyển động của dòng khí và cơ chế trao đổi khí trong đường hô hấp cũng khác với máy thở thường, tạo ra hiệu quả trao đổi khí cao hơn.

Chỉ định

Thở máy cao tần được áp dụng khi thất bại với thở máy thông thường hoặc khi có tràn khí màng phổi hoặc nguy cơ tràn khí màng phổi. Thở máy thông thường sẽ kém hiệu quả trong các trường hợp bệnh phổi gây ra giảm nặng độ giãn nở của phổi (lung compliance), hiệu quả của thở máy cao tần trong các trường hợp này đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu lâm sàng. Trong các trường hợp tràn khí màng phổi, thở máy cao tần giúp đảm bảo trao đổi khí với áp lực đường thở trung bình thấp, tạo điều kiện phục hồi nhanh các tổn thương phổi gây tràn khí.

Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy lợi ích của việc sử dụng sớm máy thở cao tần trong một số bệnh lý như thoát vị hoành bẩm sinh, bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh…

Hiện nay máy thở cao tần được sử dụng khá phổ biến trên thế giới và là một phương tiện quan trọng trong hồi sức hô hấp ở cả người lớn và trẻ em, trong nhiều trường hợp có thể giúp tránh được việc sử dụng các biện pháp can thiệp phức tạp hơn như trao đổi oxy ngoài cơ thể (ECMO).

Ths.Bs Phạm Hồng Sơn 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here