1. Bệnh Ho gà là gì?

Ho gà là bệnh truyền nhiễm cấp tính do trực khuẩn ho gà gây nên. Bệnh lây theo đường hô hấp, biểu hiện lâm sàng bằng những cơn ho dữ dội, đặc biệt và có nhiều biến chứng.

  1. Cơ chế gây bệnh

1

Độc tố của vi khuẩn (Pertussis toxin – Ptx) kích thích trực tiếp vào các thụ cảm thần kinh của niêm mạc đường hô hấp gây ra các cơn ho điển hình, mặt khác tác động lên hệ thần kinh trung ương ảnh hưởng trực tiếp đến trung khu hô hấp ở hành tuỷ, gây ra những biểu hiện rối loạn hô hấp, nếu nặng có thể ngừng thở. Độc tố còn có thể gây ra những ổ hưng phấn ở trung khu hô hấp, kết quả là tạo ra những cơn ho phản xạ kéo dài. Sự lan truyền của độc tố ở hệ thần kinh trung ương có thể dẫn tới biểu hiện viêm não – một biến chứng nặng của bệnh ho gà. Những thương tổn ở phổi: Chủ yếu do độc tố của vi khuẩn gây viêm cấp tính đường hô hấp và kích thích niêm mạc tăng tiết nhầy. Thương tổn chủ yếu ở phế quản và các tiểu phế quản.

  1. Mức độ thường gặp như thế nào?

Mọi lứa tuổi, giới, dân tộc, vùng địa lý đều có thể bị ho gà, nhưng chủ yếu là trẻ em 1-6 tuổi. Trẻ càng ít tuổi bệnh càng nặng. Bệnh thường xảy ra quanh năm, mang tính lưu hành địa phương. Bệnh ho gà vẫn tồn tại trên khắp thế giới và có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây.

  1. Bệnh có biểu hiện như thế nào?

Bệnh được mô tả đầu tiên từ những năm 1640, được gọi là Ho gà

Cơn ho gà điển hình, xảy ra bất chợt, vô cớ, cả ngày và đêm, ho nhiều về đêm. Cơn ho diễn biến qua 3 giai đoạn: Ho, thở rít vào và khạc đờm.

1

Ho: Ho rũ rượi, thành cơn, mỗi cơn từ 15-20 tiếng ho liên tiếp, càng về sau càng yếu và giảm dần. Ho nhiều làm trẻ thở yếu dần có lúc như ngừng thở, mặt tím tái, mắt đỏ, tĩnh mạch cổ nổi, chảy nước mắt nước mũi.

Thở rít vào: Xuất hiện cuối cơn ho hoặc xen kẽ sau mỗi tiếng ho, trẻ thở rít vào nghe như tiếng gà rít.

Khạc đờm: Khi trẻ khạc đờm trắng, màu trong, dính như lòng trắng trứng là lúc kết thúc một cơn ho. Trong đờm có trực khuẩn ho gà.

Sau mỗi cơn ho trẻ bơ phờ mệt mỏi, có thể nôn, vã mồ hôi, mạch nhanh, thở nhanh. Kèm theo có thể thấy một số triệu chứng sau: Sốt nhẹ hoặc hoặc không sốt, mặt và mi mắt nặng, loét hãm lưỡi, nghe phổi trong cơn ho có thể thấy một số ran phế quản (ran rít, ngáy)..

  1. Các xét nghiệm cần làm là gì?

Công thức máu: tăng bạch cầu lympho, tăng tiểu cầu

Xét nghiệm tìm kháng nguyên vi rút (PCR) hoặc kháng thể chống vi rút (Ig M )

  1. Tiêu chuẩn chẩn đoán là gì?

Đặc điểm cơn ho

PCR (+), IgM Ho (+)

  1. Phương pháp điều trị là gì?

Kháng sinh đặc hiệu (Dùng một trong các loại sau)

Ampixilin 75-100 mg/kg/ngày x 7-10 ngày.

Erythromyxin 30-50 mg/kg/ngày x 7-10 ngày.

Một số biệt dược hay được sử dụng hiện nay:

Eryenfant, erybactrim (liều dùng như erythromyxin)

Rulid (Roxithromyxin) 5-8 mg/kg/ngày  ´ 7-10 ngày.

Clarithomycin (Biaxin), Azithromycin (Zithromax) ´ 7-10 ngày

Điều trị triệu chứng

Giảm và cắt cơn ho

Dùng thuốc kháng sinh Histamin tổng hợp: Dung dịch dimedron 0,1% uống 5-10 ml/lần ´ 2 – 3 lần/ngày hoặc siro phenergan 10-20ml/ngày.

Seduxen 1-2 mg/kg/ngày hoặc gacdenal 2-3 mg/kg/ngày.

Antitus, antussin, solmux broncho hoặc theralen 10-20 ml/ngày.

Khi có nôn nhiều: Dùng primperan 0,5-1 ml/ngày.

Khi có khó thở: Móc, hút đờm dãi, cho thở oxy.

Trợ tim mạch: Coramin 0,25% ´ 20 – 30 giọt/ngày.

Khi có biến chứng

Nếu là biến chứng đường hô hấp do bội nhiễm: Dùng kháng sinh đường tiêm theo kháng sinh đồ hoặc phác đồ thường được chọn là lincocin + gentamyxin, Cephalosporin + gentamyxin. Nếu có sốt cao co giật dùng gacdenal hoặc aminazin.

Nếu biến chứng viêm não: Tích cực chống phù não, đề phòng và cắt cơn co giật. Việc sử dụng Corticoid trong điều trị viêm não vẫn còn nhiều ý kiến chưa thống nhất.

Nuôi dưỡng – săn sóc

Cho trẻ ăn nhiều bữa. Nếu nôn nhiều có thể phải cho ăn quan Sonde hoặc nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch.

Đặt trẻ ở nơi thoáng mát. Dùng thêm các vitamin A, D,C, B1, B6.

Theo dõi sát tình trạng mạch, hô hấp.Dùng Gamma globulin đặc hiệu trong thời kỳ đầu của bệnh, tiêm dưới da 2-3 ml/lần mỗi lần cách nhau 48 giờ (tổng liều 2-4 lần).

  1. Phòng bệnh

Để phòng bệnh cho tập thể, cần phải cách ly những trẻ bị ho gà trong thời gian ít nhất 4 tuần kể từ khi có cơn ho điển hình. Những trẻ tiếp xúc phải được tiêm Gamma globulin đặc hiệu 0,3 ml/kg/lần, tiêm 2 lần cách nhau 48-72 giờ (tác dụng bảo vệ chống ho gà đạt 60% theo Combe và Fauchier), trong đó đặc biệt chú ý những trẻ sơ sinh và trẻ suy dinh dưỡng. Ngoài ra, có thể dùng erythromyxin để phòng ho gà cho những trẻ em tiếp xúc với bệnh nhân.

Vacxin ho gà đã góp phần làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong. ở nước ta, ho gà được xếp vào một trong 6 bệnh nằm trong chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em.

Hiện nay thường dùng là vacxin kết hợp ho gà, bạch hầu, uốn ván (DTaP). Trẻ sơ sinh tiêm vacxin vào 3 thời điểm: 2-4-6 tháng tuổi. Tiêm nhắc lại sau 1 năm, 3 năm và 5 năm.

Vacxin cho bệnh nhân 10-18 tuổi là Boostrix, 11-64 tuổi là Adacel.

PGS. Trần Thanh Tú

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here