Tổng quan

Bệnh màng trong (HMD) còn gọi là hội chứng suy hô hấp là tình trạng trẻ cần nhiều oxy hơn để thở.

Bệnh màng trong là một trong những bệnh phổ biến nhất ở trẻ đẻ non. Bệnh màng trong thường tiến triển xấu vào 48-72h tuổi và tiến triển tốt lên khi được điều trị. Tỷ lệ cứu sống của bệnh là trên 90%.

Các trẻ bệnh màng trong được điều trị tại khu hồi sức sơ sinh  (NICU), là khu điều trị kỹ thuật cao phối hợp chặt chẽ giữa các nhân viên y tế để đảm bảo theo dõi chặt chẽ bệnh nhân

Nguyên nhân bệnh màng trong:

Bệnh màng trong xảy ra khi không đủ chất hoạt diện trải trong các phế nang gọi là sunfactant. Sunfactant được tạo ra bởi tế bào biểu mô đường hô hấp typ II, Surfactant cấu tạo gồm Phospholipids và protein. Chúng bắt đầu được sản xuất trong bào thai từ tuần 24 đến 28, và có thể tìm thấy trong dịch ối từ tuần 28 đến 32.  Ở tuần 35, hầu hết trẻ đã sản xuất đủ lượng sunfactant.

Sunfactant hoạt động thế nào?

Sunfactant được tạo ra được đưa đến các túi khí ( phế nang), giúp giữ các phế nang luôn mở, nhờ giảm sức căng bề mặt. Khi không đủ sunfactant, phế nang sẽ xẹp lại sau mỗi lần thở ra. Khi phế nang xẹp, tổn thương các tế bào đường càng làm cho trẻ khó thở. Những tế bào tổn thương này bị thoát quản, lấp đầy dịch trong phế nang, tiểu phế quản tận, tạo lớp màng gọi là màng trong, lớp màng này càng cản trở trao đổi khí tại phổi

Khi chức năng phổi giảm, oxy lấy được ít và CO2 tăng trong máu, tình trạng này có thể dẫn tới toan máu, và ảnh hưởng đến các cơ quan khác trong cơ thể. Nếu không điều trị, em bé của bạn có thể suy hô hấp nặng hơn, thậm chí ngừng thở. Khi đó hỗ trợ thở máy cần được sử dụng để hỗ trợ thay thế cho bé.

Untitled

Các yếu tố tiên lượng tiến triển bệnh màng trong?

Tiến triển bệnh màng trong phụ thuộc vào mức độ nặng, tuổi thai của bé, các bệnh lý phối hợp ( nhiễm trùng; còn ống động mạch), trẻ có phải hỗ trợ máy thở hay không

Bệnh màng trong xảy ra khoảng 60-80% trẻ đẻ non < 28 tuần, chỉ 15-30% ở trẻ 32-36 tuần. Khoảng 25% trẻ 30 tuần tiến triển thành màng trong nặng cần hỗ trợ máy thở.

Mặc dù, phần lớn trẻ bị bệnh màng trong là đẻ non, các yếu tố khác là nguy cơ cao có thể dẫn tới màng trong như:

  • Trẻ trai
  • Trẻ trước sinh bị bệnh màng trong
  • Sinh mổ
  • Ngạt
  • Nhiễm lạnh
  • Nhiễm khuẩn sơ sinh
  • Đa thai
  • Mẹ đái tháo đường
  • Còn ống động mạch

Biểu hiện của bệnh màng trong thế nào?

Mỗi trẻ , biểu hiện dấu hiệu khác nhau, nhưng hầu hết là các dấu hiệu của bệnh màng trong là:

  • Khó thở sau sinh tăng dần
  • Tím tái
  • Nở cánh mũi
  • Thở nhanh
  • Thở rên
  • Rút lõm lồng ngực

Một số trẻ cực non thường không có các triệu chứng trên ngoài tím tái, tim chậm, li bì.

Triệu chứng của bệnh màng trong đỉnh điểm vào ngày tuổi thứ 3 và bắt đầu thoái lui khi trẻ bắt đầu đái được.

Biến chứng của bệnh màng trong là gì?

Với bất kỳ bệnh nào, ở những trường hợp nặng đều có nguy cơ cao của các biến chứng. Một trong những biến chứng của bệnh màng trong là do việc hình thành bẫy khí:

+ Tràn khí màng ngoài tim

+ Tràn khí màng phổi

+ Tràn khí trung thất

+ Tràn khí phế nang

+  Bệnh phổi mạn tính trẻ đẻ non

Bệnh màng trong có thể phòng ngừa không?

Phương pháp phòng ngừa bệnh màng trong  tốt nhất là phòng ngừa đẻ non (cần quản lý thai sản định kỳ). Khi không thể phòng ngừa đẻ non, thì sản phụ sẽ được dùng corticosteroid trước khi sinh để dự phòng bệnh màng trong nặng ở trẻ sinh non. Corticosteroid được cho từ tuần 24 đến tuần 34 khi thai phụ có nguy cơ sinh non, 2 liều cách nhau 24h, nhắc lại sau 1 tuần nếu vẫn còn nguy cơ sinh non

Bệnh màng trong được chẩn đoán như thế nào?

Bệnh màng trong thường được chẩn đoán khi có sự phối hợp của lâm sàng và:

2

  • X quang tim phổi: hình ảnh kính mờ, dạng hạt lưới lan tỏa, X quang cho phân độ nặng bệnh màng trong từ 1-4
  • Khí máu động mạch: Cho thấy CO2 tăng và O2 giảm trong máu động mạch, toan máu, đánh giá tình trạng toan máu
  • Siêu âm tim: chẩn đoán phân biệt với bệnh tim, đôi khi có triệu chứng giống nhau ( gồm các bệnh lý tim bẩm sinh, các rối loạn nhịp tim)

Điều trị bệnh màng trong

Điều trị bệnh màng trong bao gồm:

  • đặt nội khí quản, thở máy cung cấp oxy
  • hỗ trợ áp lực dương cuối thì thở ra CPAP, giúp cung cấp oxy và áp lực cuối thì thở ra giúp tránh xẹp phế nang và làm nở phế nang xẹp
  • Bơm sunfactan: làm giảm tình trạng nặng của bệnh màng trong, và tác dụng tốt trong 6h đầu sau sinh. Có thể dùng điều trị dự phòng bệnh màng trong cho các trường hợp nguy cơ cao. Sử dụng sunfactant thay thế có thể lặp lại nhiều lần
  • Các thuốc hỗ trợ khác: an thần, giảm đau nếu cần; đảm bảo thân nhiệt, dinh dưỡng; cafein nếu cần.

Ths.Bs Triệu Thị Hồng Thái

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here