Khó có thể có gì bàng hoàng cho 1 cặp vợ chồng hơn khi họ nghe tin thai nhi đã chết đột ngột trong tử cung. Khi thai nhi chết trong tử cung sau 20 tuần tuổi thai, được gọi là thai chết lưu. Không có con số chính thức về nguy cơ thai chết lưu ở Việt nam, nhưng tại các nước phát triển, nguy cơ này là 1 trên 160 hay 200 thai nghén. Hầu hết các trường hợp là thai nhi chết trước khi chuyển dạ, và thường là bà mẹ mang thai cảm thấy sự bất bình thường khi không thấy thai nhi đạp hay cử động. Siêu âm là phương tiện đơn giản và chẩn đoán chắc chắn nhất thai chết lưu khi không nhìn thấy nhịp đập của tim thai.

1

Nguyên nhân của thai chết lưu thường khó xác định, đặc biệt trong điều kiện Việt nam, ngay cả tại các tuyến đầu ngành. Không chỉ là những test cần làm mà còn là thói quen không hồi cứu trong các trường hợp thai chết lưu tại các cơ sở y tế Việt nam. Chính vì vậy, sản phụ có thai chết lưu không chỉ đau buồn mà nhiều khi còn hoang mang khi nguyên nhân thai nhi chết là không được biết. Tuy nhiên, ngay cả khi thực hiện xét nghiệm nghiêm túc, hơn 1/3 thai chết lưu là không rõ nguyên nhân. Một số nguyên nhân thường thấy là như sau, và trên 1 thai chết lưu có thể có sự phối hợp của trên 1 lý do:

  • Khuyết tật bẩm sinh: Chiếm khoảng 15-20 % tổng số thai lưu. Trong số các khuyết tật bẩm sinh, nhiều nhất là các bất thường nhiễm sắc thể (trên 20%), ví dụ hội chứng Down. Các khuyết tật bẩm sinh khác có lý do về gene, môi trường hoặc khuyết tật mà không rõ nguyên nhân.
  • Bất thường rau thai: chiếm khoảng 25% tổng số thai lưu. Bất thường hay gặp nhất là hiện tượng rau bong: bánh rau tách ra từng phần từ buồng tử cung, khi không có chuyển dạ. Rau bong gây ra thiếu oxy cho thai, chảy máu và có thể nguy cơ nặng cho cả mẹ và con.
  • Thai kém phát triển: thai nhi có sự phát triển chậm hơn so với tuổi thai. Khoảng 40 % thai chết lưu có biểu hiện thai kếm phát triển. Cao huyết áp, đái đường khi mang thai là một vài trong những nguyên nhân chính.
  • Nhiễm khuẩn: Nhiễm khuẩn là nguyên nhân của khoảng 10-25% thai chết lưu. Nhiễm khuẩn có thể ở bà mẹ, ở thai nhi, hay rau thai. Không phải tất cả các nhiễm khuẩn đều có dấu hiệu lâm sàng. Các nhiễm khuẩn dễ gây thai chết lưu nhất là toxoplasmosis hay rubella. Ngoài ra các bệnh lây qua đường tình dục như lậu, giang mai, hay Chlamydia cũng có thể là nguyên nhân.
  • Các bệnh mãn tính ở bà mẹ: chiếm khoảng 10% các thai chết lưu. Bệnh nội tiết, cao huyết áp, đái tháo đường, bệnh thận, rối loạn đông máu có thể là nguyên nhân thai chết lưu.
  • Bất thường dây rau: khoảng 2-4% thai chết lưu. Có thể dây rau xoắn, thắt nút, hoặc cắm tại vị trí bất thường tại bánh rau.
  • Các nguyên nhân hiếm gặp khác: chấn thương, bất đồng nhóm máu Rh của mẹ con. Một quan điểm sai lầm của các nhà sản phụ khoa Việt nam là thai quá ngày sinh (tuổi thai dài quá 42 tuần) có thể gây ra thai chết lưu, thực chất là rất hiếm gặp.

Khi được phát hiện thai chết lưu, bác sĩ sẽ bàn bạc với sản phụ và gia đình về thời gian và phương thức đẻ. Hầu hết các sản phụ muốn cho thai ra sớm, tuy nhiên cũng có sản phụ muốn chờ đợi chuyển dạ tự nhiên. Thông thường chuyển dạ tự nhiên sẽ xảy ra trong vòng 2 tuần sau khi thai chết. Hiện tại, các phương pháp gây chuyển dạ cho sản phụ thai chết lưu là đơn giản và ít nguy hiểm.

2

Sau khi sản phụ đẻ thai, điều rất quan trọng nhưng ít được làm hiện nay là phải kiểm tra thai, rau thai, và dây rốn để xác định nguyên nhân thai chết lưu. Tốt nhất, người bác sĩ yêu cầu làm giải phẫu bệnh lý, kiểm tra bất thường nhiễm sắc thể, và có thể kiểm tra một số trường hợp nhiễm khuẩn nghi ngờ. Có tới một nửa số trường hợp, các test không xác định được nguyên nhân thai chết, tuy nhiên vẫn hữu ích vì giúp cho cặp vợ chồng thêm thông tin để chuẩn bị cho lần thai nghén tiếp theo.

Rất nhiều cặp vợ chồng băn khoăn về việc họ có thể có nguy cơ thai chết lưu trong những lần tiếp theo. Mặc dù nguy cơ này vẫn là cao hơn nhiều so với những cặp vợ chồng chưa từng bị thai chết lưu, nhưng việc thai chết lưu bị lặp lại không phải là quá cao. Bởi vì các khuyết tật bẩm sinh do nhiễm sắc thể, các bất thường rau thai hay dây rốn không dễ dàng xảy ra cho những thai tiếp theo. Tuy nhiên, các bà mẹ có những bệnh mãn tính, bệnh hệ thống hay nội tiết chưa được điều trị cẩn thận thì vẫn có nguy cơ cao. Ngoài ra, các thai chết lưu do rối loạn gene di truyền cũng có nguy cơ cao cho lần tiếp theo, lúc này cần đến vai trò của tư vấn di truyền. Tất cả những cặp vợ chồng đã có tiền sử thai chết lưu, trước khi có thai trở lại nên thảo luận với BS chuyên khoa có kinh nghiệm.

Gần đây, một hội chứng được tìm thấy có liên quan đến các trường hợp thai chết lưu không thể xác định được nguyên nhân. Đó là hội chứng kháng phospholipid. Đây là một rối loạn miễn dịch tự thân của bà mẹ khi mang thai, và rối loạn miễn dịch này lien quan tới các trường hợp tiền sản giật, sảy thai, thai kém phát triển. Một sản phụ có tiền sử thai chết lưu nên làm xét nghiệm tìm 3 kháng thể kháng phospholipid. Việc điều trị mang tính chất dự phòng và bao vây.

Cũng có một số bước để đề phòng thai chết lưu. Trước hết, các phụ nữ có bệnh mãn tính cần phải được điều trị cẩn thận, ví dụ bệnh thận, cao HA, hay đái tháo đường. Tiếp theo, cần phải thử nhóm máu Rh cho sản phụ. Nếu sản phụ nhóm máu Rh âm, sản phụ cần được tiêm globulin miễn dịch khi thai khoảng 28 tuần. Trong quá trình theo dõi, các sản phụ được yêu cầu đếm cử động thai. Trong vòng 2 giờ có 10 cử động thai được xem như bình thường. Nếu số cử đọng thai ít hơn thế, người sản phụ cần được theo dõi tim thai bằng máy monitor sản khoa và siêu âm nhiều lần. Khi thai nghén có nguy cơ cao và tuổi thai có thể cho phép thai sống, BS chuyên khoa có thể cân nhắc lấy thai ra trước khi có dấu hiệu chuyển dạ.

Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Công Nghĩa

                                                            Đại học Waterloo, Ontario, Canada

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here